Saturday, 14 May, 2022

Vietnam's Got Talent - vietnamgottalent.vn

KHẢ NĂNG HẤP PHỤ CỦA ĐẤT 1. Khái niệm – Tài liệu text – Cẩm nang Hải Phòng


articlewriting1
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 1.19 MB, 151 trang )

37 Đặc biệt keo này giàu kali, nhưng đa phần K
+
nằm sâu trong mạng lưới tinh thể keo, nên sự trao đổi kali của keo với dung dịch bên ngoài kém, kali trao đổi chỉ xuất
hiện khi lưới tinh thể keo bị phá vỡ và khi đó là nguồn cung cấp kali cho đất. Nhóm keo này phân bố nhiều ở các vùng đất khô hạn hoặc bán khô hạn.
5.2. KHẢ NĂNG HẤP PHỤ CỦA ĐẤT 5.2.1. Khái niệm
– Hấp phụ là đặc tính của đất có thể thu giữ các chất rắn, lỏng, khí làm thay
đổi nồng độ hoặc số lượng của các chất ấy trên bề mặt đất. – Trong đất có chứa nhiều hạt đất kích thước càng nhỏ, sẽ có tỷ diện lớn, năng
lượng bề mặt lớn thì khả năng hấp phụ cao. Như vậy keo đất là cơ sở tạo ra sự hấp phụ của đất, đất càng nhiều hạt keo thì khả năng hấp phụ càng cao. Khả năng hấp
phụ của đất sét bao giờ cũng đất thịt đất cát
– Khả năng hấp phụ của đất cao hay thấp phụ thuộc vào hàng loạt các tính chất lý, hóa học, sinh học của mỗi loại đất, phụ thuộc vào hàm lượng và bản chất keo
đất, phụ thuộc vào thành phần cơ giới và nồng độ ion trong dung dịch bao quanh keo,.v.v…

5.2.2. Các dạng hấp phụ của đất Theo Ghedroiz có 5 dạng hấp phụ sau đây:

5.2.2.1. Hấp phụ sinh học

Dạng hấp phụ này do sinh vật đảm nhiệm. – Vi sinh vật cố định đạm sống trong đất đã lấy đạm khí trời làm giàu đạm cho
đất. – Sự thu hút các cation và anion trong đất vào trong cơ thể sinh vật đất vi sinh
vật, thực vật và động vật sống trong đất để biến thành chất hữu cơ trong cơ thể chúng, sau khi chúng chết đi xác của chúng làm cho chất hữu cơ của đất tăng lên và
sau khi được vi sinh vật phân giải thì các cation, anion đó được trả lại cho đất, tạo ra
một vòng tuần hồn sinh học: Ion trong đất  sinh vật  trả lại cho đất. Đặc tính của hấp phụ sinh học là hấp phụ có tính chọn lọc.

Đang xem:

5.2.2.2. Hấp phụ cơ học

Là khả năng của đất có thể giữ lại các hạt vật chất nhờ các khe hở giữa các hạt đất. Đây là hiện tượng thu giữ các chất hoàn toàn cơ học.
Điều kiện của sự hấp phụ này là:  Khe hở của đất có kích thước nhỏ hơn kích thước hạt vật chất bị hấp phụ.
 Khe hở của đất có kích có thể lớn, nhưng bờ khe hở gồ ghề hay ngoằn ngoèo, đã cản trở sự di chuyển của các hạt vật chất và các hạt nhỏ được giữ lại ở những chỗ
gồ ghề hay những chỗ cong của bờ khe hở đó.  Các hạt sét có điện tích trái dấu với ion điện tích nằm trên bề mặt hạt đất nên bị hút
giữ lại. Tác dụng của sự hấp phụ này là:
– Nhờ hấp phụ cơ học mà đã tạo ra các tầng khác nhau trong phẫu diện đất. – Khi trời mưa, nhờ đất có khả năng hấp phụ cơ học nên các phần tử thô được giữ
lại trên mặt, các phần tử nhỏ được đưa xuống dưới, tạo ra một tầng đất rắn chắc,
38 nhờ đó mà hạn chế được sự rửa trôi các chất dinh dưỡng và hạn chế được sự thấm
nước xuống tầng sâu của đất. – Nhờ có hấp phụ cơ học mà người ta có thể dùng biện pháp lọc nước biển để làm
muối, hoặc lọc nước đục qua một thùng cát để lấy nước trong. Nhưng mặt trái của quá trình này là: nếu sự hấp phụ này quá nhiều sẽ làm cho đất
bí, chặt, lý tính đất trở nên xấu đi, đồng thời gây ra lầy lội cho đất.

5.2.2.3. Hấp phụ lý học hấp phụ phân tử

Xem thêm : Xem Lời Bài Hát Nếu Không Là Tất Cả Thì Đừng Là Gì Cả Thì Đừng Là Gì Của Nhau

Là sự hấp phụ xảy ra khi có sự chênh lệch nồng độ vật chất trên bề mặt keo đất và nồng độ của chất ấy trong dung dịch đất, làm tăng ho ặc giảm nồng độ phân tử
vật chất trên bề mặt hạt đất. Nguyên nhân của sự hấp phụ này là do hạt keo đất có năng lượng bề mặt. Tỷ diện
hạt đất càng lớn thì năng lượng bề mặt càng lớn, sự hấp phụ lý học càng mạnh. Hấp phụ lý học chỉ hấp phụ được các chất khí, hơi nước và một số ion, nhưng
khả năng hấp phụ không giống nhau: Hơi nước NH
3
CO
2
O
2
N
2
Có 2 dạng hấp phụ lý học: hấp phụ dương và hấp phụ âm. + Hấp phụ mà làm tăng nồng độ các chất ấy trên bề mặt hạt đất gọi là hấp phụ
dương. Ví dụ: Để làm giảm sự mất đạm trong quá trình ủ phân chuồng, thì người ta trộn đất bột với phân chuồng để ủ.
+ Hấp phụ mà làm giảm nồng độ các chất ấy trên bề mặt hạt đất gọi là hấp phụ âm ví dụ: các chất điện li như Cl

, NO
3 –
. Sự hấp phụ lý học phụ thuộc vào:
– Bản chất keo đất, kích thước hạt đất và tính chất các chất khí. Các hạt đất càng nhỏ thì hấp phụ càng cao.
– Đất càng khơ thì sự hấp phụ càng lớn. – Nhiệt độ càng cao thì hấp phụ càng yếu.

5.2.2.4. Hấp phụ hóa học

Là sự tạo thành các chất khó tan kết tủa từ những chất dễ tan trong dung dịch đất thông qua các phản ứng hóa học, nhờ đó mà các chất kết tủa được giữ lại trong
đất. Ví dụ: Na
2
SO
4
+ CaCl
2
 CaSO
4
 + 2NaCl Sự hấp phụ hóa học trong đất còn xảy ra giữa các ion hấp phụ trên bề mặt keo đất
và các chất điện giải trong dung dịch đất: [KĐ]
2Al 3+
+ CaH
2
PO
4 2
 [KĐ]
Ca 2+
+ 4H +
+ 2AlPO
4
 Đây là hiện tượng lân dễ tan trong đất bị kết tủa đặc biệt là ở những đất giàu
Fe
3+
, Al
3+
làm nghèo lân dễ tiêu cho cây ho ặc làm giảm hiệu lực của phân lân. Người ta gọi hiện tượng này là sự “giữ chặt lân” của đất.
+ Tác dụng: Nhờ có hấp phụ hóa học mà các chất dễ tan được giữ lại trong đất không bị rửa trôi khỏi đất. Đây cũng là nguyên nhân tích lũy các chất trong đất như:
Al, Fe, P, S, Ca…trong đó có những nguyên tố có lợi cho cây trồng như P, Ca, S hoặc giảm được sự gây độc của một số nguyên tố như Al chẳng hạn.
39 + Tác hại: Hiện tượng hấp phụ hóa học của đất gây nên một số bất lợi, như làm
tăng khả năng giữ chặt một số chất dinh dưỡng, gây nên hiện tượng: hàm lượng chất tổng số trong đất cao nhưng chất dễ tiêu vẫn nghèo, cây trồng vẫn bị thiếu dinh
dưỡng. Ví dụ: hiện tượng giữ chặt lân trong một số loại đất.

5.2.2.5. Hấp phụ lý hóa học hấp phụ trao đổi ion

Là đặc tính của đất có thể trao đổi các cation và anion trên bề mặt hạt keo đất với các cation hoặc anion trong dung dịch đất làm thay đổi thành phần và nồng độ ion
của dung dịch đất. Hiện tượng hấp phụ trao đổi ion này chỉ xảy ra ở keo đất khi có sự chênh lệch
nồng độ ion giữa bề mặt hạt keo và dung dịch đất bao quanh. Ví dụ: như khi bón phân vào đất, hoặc khi có sự thay đổi độ ẩm của đất.
[KĐ]
Ca2+
+ 2NH
4
Cl  [KĐ]
2NH4 +
+ CaCl
2
Sự trao đổi ion xảy ra ở lớp ion khuếch tán của hạt keo đất. Cation trên lớp ion khuếch tán sẽ được thay thế bởi cation trong dung dịch, anion trên lớp ion khuếch
tán sẽ được thay thế bởi anion trong dung dịch. + Keo âm thì ở lớp ion khuếch tán sẽ là các cation, như vậy sự trao đổi cation
hấp phụ cation là do keo âm đảm nhiệm. + Keo dương thì ở lớp ion khuếch tán sẽ là các anion, như vậy sự trao đổi anion
hấp phụ anion là do keo dương đảm nhiệm. Trong đất do lượng keo âm chiếm tỷ lệ lớn nên hiện tượng hấp phụ trao đổi
cation là chủ yếu.

5.2.2.5.1. Sự hấp phụ trao đổi cation

Là hiện tượng hấp phụ xảy ra ở keo âm. Các cation ở tầng ion khuếch tán của các keo âm sẽ trao đổi với các cation trong dung dịch đất khi tiếp xúc.
Ví dụ: [KĐ]
Ca2+
+ 2H
+
 [KĐ]
2H+
+ Ca
2+
Sự trao đổi cation trong đất tuân theo những quy luật nhất định: + Sự hấp phụ trao đổi cation tuân theo đương lượng:
Tức là một đương lượng gam của cation này trao đổi với một đương lượng gam
của một cation khác. Tổng lượng cation hấp phụ bằng tổng lượng cation bị đẩy ra, làm cho tổng lượng cation trong dung dịch khơng thay đổi.
Ví dụ: [KĐ]
Ca2+
+ 2Na
+
+ 2Cl

 [Kđ]
2Na +
+ CaCl
2
Nguyên tử lượng của Na=23, hóa trị Na là 1 đương lượng gam Na = 23g Nguyên tử lượng của Ca = 40 hóa trị Ca là 2 đương lượng gam Ca = 20g
Như vậy: 23g Na của dung dịch đất sẽ trao đổi với 20g Ca của keo đất; + Sự hấp phụ trao đổi cation tiến hành theo 2 chiều thuận nghịch.
Chiều của phản ứng thuận hay nghịch phụ thuộc vào nồng độ và đặc tính của
cation trong dung dịch đất. Phản ứng sẽ dừng lại khi keo đất và dung dịch đất hình thành sự cân bằng về nồng độ cation, song trong thực tế không bao giờ có sự cân
bằng này, vì thành phần và nồng độ cation trong dung dịch đất luôn luôn bị thay đổi do dinh dưỡng cây, vi sinh vật, bón phân, tưới tiêu,….
+ Sự hấp phụ cation phụ thuộc vào nồng độ cation trong dung dịch đất.
40 Nồng độ cation trong dung dịch đất càng cao thì trao đổi của keo đất càng mạnh,
ngược lại nồng đô nồng độ ion của dung dịch đất c àng nhỏ thì các cation bị đẩy từ keo đất vào dung dịch đất càng dễ.
+ Sự hấp phụ trao đổi cation xảy ra rất nhanh. Các phản ứng trao đổi thường xảy ra rất nhanh, chỉ sau một thời gian rất ngắn sự
cân bằng động các ion giữa keo đất và dung dịch đất đ ã được hình thành. Tốc độ của phản ứng phụ thuộc vào đặc tính cation, phụ thuộc vào tỷ lệ keo đất và dung
dịch đất, vào nồng độ dung dịch đất và cả nhiệt độ của đất.
+ Sự hấp phụ cation phụ thuộc vào hóa trị, bán kính cation và độ dày màng thủy hóa của các cation:
Hóa trị cation càng cao thì trao đổi xảy ra càng mạnh, hóa trị 3 hóa trị 2 từ 4-5 lần, hóa trị 2 hóa trị 1 đến 4 lần. Riêng ion H
+
là ion đặc biệt, tuy có hóa trị nhỏ nhưng có màng thủy hóa rất mỏng 1,35A
O
rất ít bị hydrat hóa nên khả năng trao đổi khơng những vượt các cation hóa trị 1, mà còn vượt cả các cation hóa trị 2.
Các cation cùng hóa trị thì cation nào có bán kính lớn, tức là độ dày màng thủy hóa mỏng sẽ trao đổi mạnh hơn. Sự hấp phụ cation có thể xếp theo thứ tự như sau:
Li
+
Na
+
NH
4 +
K
+
Mg
2+
Ca
2+
H
+
Al
3+
Fe
3+
Các cation bị keo đất hấp phụ càng dễ thì chúng bị đẩy ra khỏi keo đất càng khó.

Dung tích hấp phu – CEC T
Dung tích hấp phụ của đất là tổng số cation được keo đất hấp phụ, tính bằng lđl100g đất. Ký hiệu: CEC hoặc T
Cơng thức tính: CEC = S + H Trong đó: CEC là dung tích hấp phụ lđl100g đất.
S là tổng số các cation kiềm hấp phụ, phần lớn là các cation kiềm trao đổi Ca
2+
, Mg
2+
, K
+
, Na
+
, NH
4 +
. H là tổng số các cation không kiềm hấp phụ, chủ yếu là H
+
và Al
3+
còn gọi là độ chua thủy phân của đất. CEC của đất phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố sau:
– CEC phụ thuộc vào bản chất của keo đất: Loại keo
CEC lđl 100g keo FeOH
3
và AlOH
3
Rất bé Kaolinit
5 – 15 Monmorilonit
80 – 150 Illit
30 – 40 Axit mùn
350 – 500 – CEC phụ thuộc tỷ số SiO
2
R
2
O
3
: tỷ lệ càng cao thì CEC càng lớn. – CEC phụ thuộc vào thành phần cơ giới đất: Đất có thành phần cơ giới nặng, giàu
sét thì thường có CEC lớn. Chính vì vậy những chân đất sét thì có khả năng chịu nước, chịu phân hơn những chân đất cát.
– CEC còn phụ thuộc vào pH mơi trường: pH đất tăng thì CEC thường cũng tăng lên.

Độ no kiềm V
41 Tỷ lệ phần trăm các cation kiềm có trong dung tích hấp phụ được gọi là độ no
kiềm no bazơ, công thức tính: V =
S CEC
 100 = S
S + H  100
Như vậy V càng lớn thì tỷ lệ cation kiềm trong đất càng nhiều. Người ta dựa vào trị số V để đánh giá mức độ bão hòa kiềm của đất và nhu cầu cần thiết bón
vơi cho đất. V  70: đất no kiềm, khơng cần bón vơi.
V = 50 – 70: đất có độ kiềm trung bình, chỉ cần một ít vơi. V 50: đất đói kiềm cần thiết phải bón vơi cho đất.
Trị số V liên quan chặt chẽ đến trị số pH đất. V càng lớn thì pH càng cao càng
kiềm. Đất Việt Nam nói chung có V thấp trừ đất phù sa ngồi đê sơng Hồng có pH
trung tính – hơi kiềm nên V 70. Vì vậy hầu hết các loại đất Việt Nam việc bón vơi là rất cần thiết.

5.2.2.5.2. Sự hấp phụ anion của keo đất

Việc nghiên cứu sự hấp phụ anion trong đất còn ít và còn nhiều hạn chế. Tuy vậy, những nghiên cứu về tính chất mang điện của keo đất đã chứng minh rằng một
số anion cũng bị hấp phụ trao đổi ion bởi các keo đất dương. Các anion trong đất được chia thành 3 nhóm theo khả năng hấp phụ khác nhau:
 Nhóm 1: Là nhóm anion khơng bị đất hấp phụ, gồm những anion NO
3 –
, NO
2 –
và Cl

. Chỉ trong trường hợp rất đặc biệt khi trong đất hàm lượng keo secquyoxyt cao và có pH rất chua, nồng độ Cl

và NO
3 –
trong dung dịch đất cao mới có sự hấp phụ anion này, nhưng trong thực tế không có trường hợp này.
 Nhóm 2: Là nhóm anion bị hấp phụ với mức trung bình, đó là các anion: SO
4 2-
, CO
3 2-
, HCO
3 –
.  Nhóm 3: Là nhóm anion bị hấp phụ mạnh, gồm các anion của gốc phosphat
H
2
PO
4 –
, HPO
4 2-
và PO
4 3-
và OH

. – Trong đất chua thì FeOH
3
 và AlOH
3
 là những keo dương nên có khả năng hấp phụ trao đổi ion PO
4 3-
. – Keo sét cũng có khả năng hấp phụ trao đổi anion với phosphat, do vị trí tích
điện dương của keo sét đảm nhiệm, hiện tượng này xảy ra phổ biến ở Kaolinit do phiến gipxit của keo có các nhóm OH lộ trần có khả năng trao đổi ion phosphat.
Các quá trình hấp phụ lân nói trên đã gây nên sự giữ chặt lân trong đất, làm cho cây bị thiếu lân và làm giảm hiệu lực của các dạng phân lân bón vào đất.
5.2.3. Khả năng hấp phụ của đất đối với độ phì nhiêu của đất và chế độ bón phân
 Đối với độ phì đất: – Nhờ có khả năng hấp phụ mà các chất được giữ lại trong đất, làm tăng độ phì
nhiêu cho đất. Vì thế cho nên đất có khả năng hấp phụ cao bao giờ cũng phì nhiêu hơn, có khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn, có tính đệm cao hơn. Khả năng hấp
42 phụ thấp là một trong những nguyên nhân làm cho đất chóng bị thối hóa, nghèo
dinh dưỡng vì các chất không được hấp phụ sẽ dễ bị rửa trôi. – Thành phần cation hấp phụ khác nhau có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái kết
cấu của đất bền hay không bền, phân tán hay ngưng tụ. – Sự hấp phụ anion phosphat sẽ ảnh hưởng đến chế độ lân trong đất và hiệu lực
của phân lân.  Đối với chế độ bón phân bồi dưỡng cải tạo đất.
– Thơng qua khả năng hấp phụ của đất, người ta dùng biện pháp bón phân để tăng các chất dự trữ cho keo đất, đồng thời cải tạo thành phần ion của keo đất khử chua,
khử mặn,… đây là nguyên lý của biện pháp hóa học cải tạo đất. – Căn cứ vào khả năng hấp phụ của đất cao hay thấp mà người ta đề ra quy trình
bón phân cho thích hợp, cụ thể là: Đất có dung tích hấp phụ cao thì có thể dùng biện pháp bón phân dự trữ nghĩa là tăng lượng phân trong một lần bón, mà có thể giảm
số lần bón trong một vụ để khỏi tốn công; Ngược lại, đối với đất có dung tích hấp phụ thấp thì phải giảm lượng phân trong một lần bón, nhưng tăng số lần bón trong
một vụ.
CHƯƠNG 6 DUNG DỊCH ĐẤT
6.1. KHÁI NIỆM Dung dịch đất gồm nước trong đất và chất hòa tan là các chất vô cơ, hữu cơ và
hữu cơ-vơ cơ có trong đất.  Nước xâm nhập vào đất gồm: Nước mưa, nước sông, nước biển, nước tưới,…
mang theo O
2
, CO
2
, NH
3
, NO
3 –
, NO
2 –
, các chất khí, các muối và cát bụi, bản thân nó đã là một dung dịch, khi vào đất nó hòa tan thêm các chất của đất, tạo nên dung
dịch đất.  Chất hòa tan trong dung dịch đất gồm có:
– Chất vơ cơ: ở dạng hòa tan hay dạng keo như: NO
3 –
, NO
2 –
, HCO
3 –
, CO
3 2-
, PO
4 3-
, SO
4 2-
, Cl

,… keo sét, keo silic, keo sắt, nhôm,… – Chất hữu cơ: các axit mùn, các chất sinh ra trong quá trình phân giải chất hữu
cơ như: axit hữu cơ, axit amin, aldehyt, rượu,… – Các chất hữu cơ-vô cơ: các muối của axit mùn, các liên kết mùn-sét, mùn
khoáng,… – Các chất khí: CO
2
, O
2
, N
2
, NH
3
, H
2
S,… Thành phần, số lượng và nồng độ các chất hòa tan trong dung dịch đất ln thay
đổi, vì hàm lượng nước trong đất luôn luôn thay đổi và các chất hòa tan thì luôn luôn được bổ sung vào đất bởi các nguồn sau đây:
+ Do đá mẹ phong hóa, do nước mang nơi khác tới, do các chất được phân giải từ chất hữu cơ, do các chất hòa tan có sẵn trong nước mưa,…
+ Do hàng năm con người bón phân vào đất. + Do các ion hấp phụ trên keo đất chuyển vào dung dịch đất.
+ Do các chất mà thực vật và vi sinh vật trong quá trình sống đã thải vào đất.
43 Như vậy: Dung dịch đất là một bộ phận linh hoạt của đất. Nó tham gia trực tiếp
vào quá trình hình thành đất, vào các phản ứng lý học, hóa học, sinh học xảy ra trong đất; tham gia vào sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa đất với cây và với vi sinh
vật đất.
6.2. VAI TRÒ CỦA DUNG DỊCH ĐẤT – Thành phần và số lượng chất hòa tan trong dung dịch đất nói lên khả năng cung
cấp chất dinh dưỡng cho thực vật và vi sinh vật. – Nồng độ dung dịch đất ảnh hưởng đến sự hút nước của cây. Nếu nồng độ chất
tan quá cao ví dụ: đất bị mặn thì áp suất thẩm thấu của dung dịch đất tăng lên sẽ cản trở sự hút nước của cây, nên dù trong đất có nhiều nước nhưng cây vẫn bị héo
gọi là hạn sinh lý.
– Phản ứng của dung dịch đất chua, kiềm hay trung tính ảnh hưởng lớn đến hoạt động của vi sinh vật; ảnh hưởng đến tính chất lý học, hóa học, sinh học của đất; ảnh
hưởng đến độ hòa tan các chất dinh dưỡng có trong đất. – Một số loại muối, các anion, cation, chất hòa tan trong dung dịch đất làm cho
đất có tính đệm, có thể giữ độ pH đất ít bị thay đổi. – Dung dịch đất chứa một số chất hòa tan có thể tăng cường quá trình phá hủy đá
để hình thành đất.

6.3. ĐẶC TÍNH CỦA DUNG DỊCH ĐẤT

Dạng hấp phụ này do sinh vật đảm nhiệm. – Vi sinh vật cố định và thắt chặt đạm sống trong đất đã lấy đạm khí trời làm giàu đạm chođất. – Sự lôi cuốn những cation và anion trong đất vào trong khung hình sinh vật đất vi sinhvật, thực vật và động vật hoang dã sống trong đất để biến thành chất hữu cơ trong khung hình chúng, sau khi chúng chết đi xác của chúng làm cho chất hữu cơ của đất tăng lên vàsau khi được vi sinh vật phân giải thì những cation, anion đó được trả lại cho đất, tạo ramột vòng tuần hồn sinh học : Ion trong đất  sinh vật  trả lại cho đất. Đặc tính của hấp phụ sinh học là hấp phụ có tính tinh lọc. Là khả năng của đất hoàn toàn có thể giữ lại những hạt vật chất nhờ những khe hở giữa những hạt đất. Đây là hiện tượng kỳ lạ thu giữ những chất trọn vẹn cơ học. Điều kiện của sự hấp phụ này là :  Khe hở của đất có kích cỡ nhỏ hơn size hạt vật chất bị hấp phụ.  Khe hở của đất có kích hoàn toàn có thể lớn, nhưng bờ khe hở không nhẵn hay ngoằn ngoèo, đã cản trở sự vận động và di chuyển của những hạt vật chất và những hạt nhỏ được giữ lại ở những chỗgồ ghề hay những chỗ cong của bờ khe hở đó.  Các hạt sét có điện tích trái dấu với ion điện tích nằm trên mặt phẳng hạt đất nên bị hútgiữ lại. Tác dụng của sự hấp phụ này là : – Nhờ hấp phụ cơ học mà đã tạo ra những tầng khác nhau trong phẫu diện đất. – Khi trời mưa, nhờ đất có khả năng hấp phụ cơ học nên những thành phần thô được giữlại trên mặt, những thành phần nhỏ được đưa xuống dưới, tạo ra một tầng đất rắn chắc, 38 nhờ đó mà hạn chế được sự rửa trôi những chất dinh dưỡng và hạn chế được sự thấmnước xuống tầng sâu của đất. – Nhờ có hấp phụ cơ học mà người ta hoàn toàn có thể dùng giải pháp lọc nước biển để làmmuối, hoặc lọc nước đục qua một thùng cát để lấy nước trong. Nhưng mặt trái của quy trình này là : nếu sự hấp phụ này quá nhiều sẽ làm cho đấtbí, chặt, lý tính đất trở nên xấu đi, đồng thời gây ra lầy lội cho đất. Là sự hấp phụ xảy ra khi có sự chênh lệch nồng độ vật chất trên mặt phẳng keo đất và nồng độ của chất ấy trong dung dịch đất, làm tăng ho ặc giảm nồng độ phân tửvật chất trên mặt phẳng hạt đất. Nguyên nhân của sự hấp phụ này là do hạt keo đất có nguồn năng lượng mặt phẳng. Tỷ diệnhạt đất càng lớn thì nguồn năng lượng mặt phẳng càng lớn, sự hấp phụ lý học càng mạnh. Hấp phụ lý học chỉ hấp phụ được những chất khí, hơi nước và một số ít ion, nhưngkhả năng hấp phụ không giống nhau : Hơi nước NHCOCó 2 dạng hấp phụ lý học : hấp phụ dương và hấp phụ âm. + Hấp phụ mà làm tăng nồng độ những chất ấy trên mặt phẳng hạt đất gọi là hấp phụdương. Ví dụ : Để làm giảm sự mất đạm trong quy trình ủ phân chuồng, thì người ta trộn đất bột với phân chuồng để ủ. + Hấp phụ mà làm giảm nồng độ những chất ấy trên mặt phẳng hạt đất gọi là hấp phụ âm ví dụ : những chất điện li như Cl, NO3 -. Sự hấp phụ lý học nhờ vào vào : – Bản chất keo đất, size hạt đất và đặc thù những chất khí. Các hạt đất càng nhỏ thì hấp phụ càng cao. – Đất càng khơ thì sự hấp phụ càng lớn. – Nhiệt độ càng cao thì hấp phụ càng yếu. Là sự tạo thành những chất khó tan kết tủa từ những chất dễ tan trong dung dịch đất trải qua những phản ứng hóa học, nhờ đó mà những chất kết tủa được giữ lại trongđất. Ví dụ : NaSO + CaCl  CaSO  + 2N aCl Sự hấp phụ hóa học trong đất còn xảy ra giữa những ion hấp phụ trên mặt phẳng keo đấtvà những chất điện giải trong dung dịch đất : [ KĐ ] 2A l 3 + + CaHPO4 2  [ KĐ ] Ca 2 + + 4H + + 2A lPO  Đây là hiện tượng kỳ lạ lân dễ tan trong đất bị kết tủa đặc biệt quan trọng là ở những đất giàuFe3 +, Al3 + làm nghèo lân dễ tiêu cho cây ho ặc làm giảm hiệu lực thực thi hiện hành của phân lân. Người ta gọi hiện tượng kỳ lạ này là sự “ giữ chặt lân ” của đất. + Tác dụng : Nhờ có hấp phụ hóa học mà những chất dễ tan được giữ lại trong đất không bị rửa trôi khỏi đất. Đây cũng là nguyên do tích góp những chất trong đất như : Al, Fe, P, S, Ca … trong đó có những nguyên tố có lợi cho cây xanh như P, Ca, S hoặc giảm được sự gây độc của một số nguyên tố như Al ví dụ điển hình. 39 + Tác hại : Hiện tượng hấp phụ hóa học của đất gây nên một số ít bất lợi, như làmtăng khả năng giữ chặt một số ít chất dinh dưỡng, gây nên hiện tượng kỳ lạ : hàm lượng chất tổng số trong đất cao nhưng chất dễ tiêu vẫn nghèo, cây xanh vẫn bị thiếu dinhdưỡng. Ví dụ : hiện tượng kỳ lạ giữ chặt lân trong một số ít loại đất. Là đặc tính của đất hoàn toàn có thể trao đổi những cation và anion trên mặt phẳng hạt keo đất với những cation hoặc anion trong dung dịch đất làm đổi khác thành phần và nồng độ ioncủa dung dịch đất. Hiện tượng hấp phụ trao đổi ion này chỉ xảy ra ở keo đất khi có sự chênh lệchnồng độ ion giữa mặt phẳng hạt keo và dung dịch đất bao quanh. Ví dụ : như khi bón phân vào đất, hoặc khi có sự đổi khác nhiệt độ của đất. [ KĐ ] Ca2 + + 2NHC l  [ KĐ ] 2NH4 + + CaClSự trao đổi ion xảy ra ở lớp ion khuếch tán của hạt keo đất. Cation trên lớp ion khuếch tán sẽ được sửa chữa thay thế bởi cation trong dung dịch, anion trên lớp ion khuếchtán sẽ được sửa chữa thay thế bởi anion trong dung dịch. + Keo âm thì ở lớp ion khuếch tán sẽ là những cation, như vậy sự trao đổi cationhấp phụ cation là do keo âm đảm nhiệm. + Keo dương thì ở lớp ion khuếch tán sẽ là những anion, như vậy sự trao đổi anionhấp phụ anion là do keo dương đảm nhiệm. Trong đất do lượng keo âm chiếm tỷ suất lớn nên hiện tượng kỳ lạ hấp phụ trao đổication là đa phần. Là hiện tượng kỳ lạ hấp phụ xảy ra ở keo âm. Các cation ở tầng ion khuếch tán của những keo âm sẽ trao đổi với những cation trong dung dịch đất khi tiếp xúc. Ví dụ : [ KĐ ] Ca2 + + 2H  [ KĐ ] 2H + + Ca2 + Sự trao đổi cation trong đất tuân theo những quy luật nhất định : + Sự hấp phụ trao đổi cation tuân theo đương lượng : Tức là một đương lượng gam của cation này trao đổi với một đương lượng gamcủa một cation khác. Tổng lượng cation hấp phụ bằng tổng lượng cation bị đẩy ra, làm cho tổng lượng cation trong dung dịch khơng biến hóa. Ví dụ : [ KĐ ] Ca2 + + 2N a + 2C l  [ Kđ ] 2N a + + CaClNguyên tử lượng của Na = 23, hóa trị Na là 1 đương lượng gam Na = 23 g Nguyên tử lượng của Ca = 40 hóa trị Ca là 2 đương lượng gam Ca = 20 gNhư vậy : 23 g Na của dung dịch đất sẽ trao đổi với 20 g Ca của keo đất ; + Sự hấp phụ trao đổi cation triển khai theo 2 chiều thuận nghịch. Chiều của phản ứng thuận hay nghịch nhờ vào vào nồng độ và đặc tính củacation trong dung dịch đất. Phản ứng sẽ dừng lại khi keo đất và dung dịch đất hình thành sự cân đối về nồng độ cation, tuy nhiên trong thực tiễn không khi nào có sự cânbằng này, vì thành phần và nồng độ cation trong dung dịch đất luôn luôn bị biến hóa do dinh dưỡng cây, vi sinh vật, bón phân, tưới tiêu, …. + Sự hấp phụ cation phụ thuộc vào vào nồng độ cation trong dung dịch đất. 40 Nồng độ cation trong dung dịch đất càng cao thì trao đổi của keo đất càng mạnh, ngược lại nồng đô nồng độ ion của dung dịch đất c àng nhỏ thì những cation bị đẩy từ keo đất vào dung dịch đất càng dễ. + Sự hấp phụ trao đổi cation xảy ra rất nhanh. Các phản ứng trao đổi thường xảy ra rất nhanh, chỉ sau một thời hạn rất ngắn sựcân bằng động những ion giữa keo đất và dung dịch đất đ ã được hình thành. Tốc độ của phản ứng nhờ vào vào đặc tính cation, nhờ vào vào tỷ suất keo đất và dungdịch đất, vào nồng độ dung dịch đất và cả nhiệt độ của đất. + Sự hấp phụ cation nhờ vào vào hóa trị, nửa đường kính cation và độ dày màng thủy hóa của những cation : Hóa trị cation càng cao thì trao đổi xảy ra càng mạnh, hóa trị 3 hóa trị 2 từ 4-5 lần, hóa trị 2 hóa trị 1 đến 4 lần. Riêng ion Hlà ion đặc biệt quan trọng, tuy có hóa trị nhỏ nhưng có màng thủy hóa rất mỏng dính 1,35 Arất ít bị hydrat hóa nên khả năng trao đổi khơng những vượt những cation hóa trị 1, mà còn vượt cả những cation hóa trị 2. Các cation cùng hóa trị thì cation nào có nửa đường kính lớn, tức là độ dày màng thủy hóa mỏng mảnh sẽ trao đổi mạnh hơn. Sự hấp phụ cation hoàn toàn có thể xếp theo thứ tự như sau : LiNaNH4 + Mg2 + Ca2 + Al3 + Fe3 + Các cation bị keo đất hấp phụ càng dễ thì chúng bị đẩy ra khỏi keo đất càng khó. Dung tích hấp phu – CEC TDung tích hấp phụ của đất là tổng số cation được keo đất hấp phụ, tính bằng lđl100g đất. Ký hiệu : CEC hoặc TCơng thức tính : CEC = S + H Trong đó : CEC là dung tích hấp phụ lđl100g đất. S là tổng số những cation kiềm hấp phụ, phần đông là những cation kiềm trao đổi Ca2 +, Mg2 +, K, Na, NH4 +. H là tổng số những cation không kiềm hấp phụ, hầu hết là Hvà Al3 + còn gọi là độ chua thủy phân của đất. CEC của đất nhờ vào hầu hết vào những yếu tố sau : – CEC nhờ vào vào thực chất của keo đất : Loại keoCEC lđl 100 g keo FeOHvà AlOHRất bé Kaolinit5 – 15 Monmorilonit80 – 150 Illit30 – 40 Axit mùn350 – 500 – CEC nhờ vào tỷ số SiO : tỷ suất càng cao thì CEC càng lớn. – CEC nhờ vào vào thành phần cơ giới đất : Đất có thành phần cơ giới nặng, giàusét thì thường có CEC lớn. Chính vì thế những chân đất sét thì có khả năng chịu nước, chịu phân hơn những chân đất cát. – CEC còn nhờ vào vào pH mơi trường : pH đất tăng thì CEC thường cũng tăng lên. Độ no kiềm V41 Tỷ lệ Phần Trăm những cation kiềm có trong dung tích hấp phụ được gọi là độ nokiềm no bazơ, công thức tính : V = S CEC  100 = SS + H  100N hư vậy V càng lớn thì tỷ suất cation kiềm trong đất càng nhiều. Người ta dựa vào trị số V để nhìn nhận mức độ bão hòa kiềm của đất và nhu yếu thiết yếu bónvơi cho đất. V  70 : đất no kiềm, khơng cần bón vơi. V = 50 – 70 : đất có độ kiềm trung bình, chỉ cần một chút ít vơi. V 50 : đất đói kiềm thiết yếu phải bón vơi cho đất. Trị số V tương quan ngặt nghèo đến trị số pH đất. V càng lớn thì pH càng cao càngkiềm. Đất Nước Ta nói chung có V thấp trừ đất phù sa ngồi đê sơng Hồng có pHtrung tính – hơi kiềm nên V 70. Vì vậy hầu hết những loại đất Nước Ta việc bón vơi là rất thiết yếu. Việc nghiên cứu và điều tra sự hấp phụ anion trong đất còn ít và còn nhiều hạn chế. Tuy vậy, những nghiên cứu và điều tra về đặc thù mang điện của keo đất đã chứng tỏ rằng mộtsố anion cũng bị hấp phụ trao đổi ion bởi những keo đất dương. Các anion trong đất được chia thành 3 nhóm theo khả năng hấp phụ khác nhau :  Nhóm 1 : Là nhóm anion khơng bị đất hấp phụ, gồm những anion NO3 -, NO2 – và Cl. Chỉ trong trường hợp rất đặc biệt quan trọng khi trong đất hàm lượng keo secquyoxyt cao và có pH rất chua, nồng độ Clvà NO3 – trong dung dịch đất cao mới có sự hấp phụ anion này, nhưng trong trong thực tiễn không có trường hợp này.  Nhóm 2 : Là nhóm anion bị hấp phụ với mức trung bình, đó là những anion : SO4 2 -, CO3 2 -, HCO3 -.  Nhóm 3 : Là nhóm anion bị hấp phụ mạnh, gồm những anion của gốc phosphatPO4 -, HPO4 2 – và PO4 3 – và OH. – Trong đất chua thì FeOH  và AlOH  là những keo dương nên có khả năng hấp phụ trao đổi ion PO4 3 -. – Keo sét cũng có khả năng hấp phụ trao đổi anion với phosphat, do vị trí tíchđiện dương của keo sét đảm nhiệm, hiện tượng kỳ lạ này xảy ra thông dụng ở Kaolinit do phiến gipxit của keo có những nhóm OH lộ trần có khả năng trao đổi ion phosphat. Các quy trình hấp phụ lân nói trên đã gây nên sự giữ chặt lân trong đất, làm cho cây bị thiếu lân và làm giảm hiệu lực thực thi hiện hành của những dạng phân lân bón vào đất. 5.2.3. Khả năng hấp phụ của đất so với độ phì nhiêu của đất và chính sách bón phân  Đối với độ phì đất : – Nhờ có khả năng hấp phụ mà những chất được giữ lại trong đất, làm tăng độ phìnhiêu cho đất. Vì thế cho nên vì thế đất có khả năng hấp phụ cao khi nào cũng phì nhiêu hơn, có khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn, có tính đệm cao hơn. Khả năng hấp42 phụ thấp là một trong những nguyên do làm cho đất chóng bị thối hóa, nghèodinh dưỡng vì những chất không được hấp phụ sẽ dễ bị rửa trôi. – Thành phần cation hấp phụ khác nhau có tác động ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái kếtcấu của đất bền hay không bền, phân tán hay ngưng tụ. – Sự hấp phụ anion phosphat sẽ tác động ảnh hưởng đến chính sách lân trong đất và hiệu lựccủa phân lân.  Đối với chính sách bón phân tu dưỡng tái tạo đất. – Thơng qua khả năng hấp phụ của đất, người ta dùng giải pháp bón phân để tăng những chất dự trữ cho keo đất, đồng thời tái tạo thành phần ion của keo đất khử chua, khử mặn, … đây là nguyên tắc của biện pháp hóa học tái tạo đất. – Căn cứ vào khả năng hấp phụ của đất cao hay thấp mà người ta đề ra quy trìnhbón phân cho thích hợp, đơn cử là : Đất có dung tích hấp phụ cao thì hoàn toàn có thể dùng giải pháp bón phân dự trữ nghĩa là tăng lượng phân trong một lần bón, mà hoàn toàn có thể giảmsố lần bón trong một vụ để khỏi tốn công ; trái lại, so với đất có dung tích hấp phụ thấp thì phải giảm lượng phân trong một lần bón, nhưng tăng số lần bón trongmột vụ. CHƯƠNG 6 DUNG DỊCH ĐẤT6. 1. KHÁI NIỆM Dung dịch đất gồm nước trong đất và chất hòa tan là những chất vô cơ, hữu cơ vàhữu cơ-vơ cơ có trong đất.  Nước xâm nhập vào đất gồm : Nước mưa, nước sông, nước biển, nước tưới, … mang theo O, CO, NH, NO3 -, NO2 -, những chất khí, những muối và cát bụi, bản thân nó đã là một dung dịch, khi vào đất nó hòa tan thêm những chất của đất, tạo nên dungdịch đất.  Chất hòa tan trong dung dịch đất gồm có : – Chất vơ cơ : ở dạng hòa tan hay dạng keo như : NO3 -, NO2 -, HCO3 -, CO3 2 -, PO4 3 -, SO4 2 -, Cl, … keo sét, keo silic, keo sắt, nhôm, … – Chất hữu cơ : những axit mùn, những chất sinh ra trong quy trình phân giải chất hữucơ như : axit hữu cơ, axit amin, aldehyt, rượu, … – Các chất hữu cơ-vô cơ : những muối của axit mùn, những link mùn-sét, mùnkhoáng, … – Các chất khí : CO, O, N, NH, HS, … Thành phần, số lượng và nồng độ những chất hòa tan trong dung dịch đất ln thayđổi, vì hàm lượng nước trong đất luôn luôn đổi khác và những chất hòa tan thì luôn luôn được bổ trợ vào đất bởi những nguồn sau đây : + Do đá mẹ phong hóa, do nước mang nơi khác tới, do những chất được phân giải từ chất hữu cơ, do những chất hòa tan có sẵn trong nước mưa, … + Do hàng năm con người bón phân vào đất. + Do những ion hấp phụ trên keo đất chuyển vào dung dịch đất. + Do những chất mà thực vật và vi sinh vật trong quy trình sống đã thải vào đất. 43 Như vậy : Dung dịch đất là một bộ phận linh động của đất. Nó tham gia trực tiếpvào quy trình hình thành đất, vào những phản ứng lý học, hóa học, sinh học xảy ra trong đất ; tham gia vào sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa đất với cây và với vi sinhvật đất. 6.2. VAI TRÒ CỦA DUNG DỊCH ĐẤT – Thành phần và số lượng chất hòa tan trong dung dịch đất nói lên khả năng cungcấp chất dinh dưỡng cho thực vật và vi sinh vật. – Nồng độ dung dịch đất tác động ảnh hưởng đến sự hút nước của cây. Nếu nồng độ chấttan quá cao ví dụ : đất bị mặn thì áp suất thẩm thấu của dung dịch đất tăng lên sẽ cản trở sự hút nước của cây, nên dù trong đất có nhiều nước nhưng cây vẫn bị héogọi là hạn sinh lý. – Phản ứng của dung dịch đất chua, kiềm hay trung tính tác động ảnh hưởng lớn đến hoạt động giải trí của vi sinh vật ; ảnh hưởng tác động đến đặc thù lý học, hóa học, sinh học của đất ; ảnhhưởng đến độ hòa tan những chất dinh dưỡng có trong đất. – Một số loại muối, những anion, cation, chất hòa tan trong dung dịch đất làm chođất có tính đệm, hoàn toàn có thể giữ độ pH đất ít bị biến hóa. – Dung dịch đất chứa 1 số ít chất hòa tan hoàn toàn có thể tăng cường quy trình hủy hoại đáđể hình thành đất .
Xem thêm : Còn gì nữa đâu mà khóc với sầu

0 comments on “KHẢ NĂNG HẤP PHỤ CỦA ĐẤT 1. Khái niệm – Tài liệu text – Cẩm nang Hải Phòng

Trả lời

[Review] 72 tư thế quan hệ tình dục phê không tưởng có hình ảnh sống động
[Review] 72 tư thế quan hệ tình dục phê không tưởng có hình ảnh sống động

Social