Friday, 20 May, 2022

Vietnam's Got Talent - vietnamgottalent.vn

Đất xám bạc màu được hình thành trên phù sa cổ, có quá trình hình thành đất chủ – Tài liệu text


articlewriting1
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản vừa đủ của tài liệu tại đây ( 2.1 MB, 155 trang )

71

nay, loại đất này đang được khai thác trồng các loại cây ăn quả, chủ yếu là vải thiều.

Kết quả phân tích mẫu đất (phụ lục 8).

+ Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), loại đất này có diện tích 11.322ha, chiếm

6,9% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố ở huyện Chí Linh và Kinh Môn.

Loại đất này có tầng đất mỏng, lẫn ít sỏi sạn thạch anh, màu vàng nhạt, khô

cứng, tiêu thoát nước tốt. Kết quả phân tích mẫu đất được thể hiện trong phụ lục 9.

Loại này đất có phản ứng chua đến rất chua, hàm lượng các chất dinh dưỡng thấp,

nghèo chất hữu cơ và đạm tổng số, kali tổng số và dễ tiêu đều nghèo, dung tích

cation trao đổi thấp, độ no bazơ rất thấp. Loại đất này có tầng dày trên 50cm, ở chân

đồi núi có thể cải tạo trồng các loại cây ăn quả như nhãn, vải thiều, chanh, bưởi…;

dốc, tầng mỏng hoặc ở gần vùng đỉnh đồi cần khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng rừng

nhằm bảo vệ môi trường đất, vừa có thể phát triển lâm nghiệp.

+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl). Loại đất này có diện tích

380ha, phân bố chủ yếu ở phía Bắc huyện Chí Linh. Loại đất này có tầng dày, độ

dốc từ 3 – 8 0. Đất được hình thành do quá trình canh tác lúa nước hàng năm trên

các loại đất đỏ vàng, rồi bị biến đổi, nhất là tầng đất mặt, do quá trình glây hóa

tầng đất mặt và rửa trôi các chất bazơ, keo sét. Kết quả phân tích mẫu đất được

thể hiện trong phụ lục 10. Loại đất này có màu sáng khô, thành phần cơ giới nhẹ,

tầng sâu có màu đỏ đậm hơn, thành phần cơ giới nặng hơn, tầng đất dày, có lẫn ít

sỏi sạn. Nhìn chung loại đất này có hàm lượng các chất dinh dưỡng thấp, phản

ứng đất chua, dung tích cation trao đổi thấp, độ no bazơ trung bình, đất nghèo

chất hữu cơ và đạm tổng số, lân tổng số tầng mặt giàu, tầng sâu nghèo, trong khi

đó kali tổng số nghèo ở tầng mặt, đạt trung bình ở tầng sâu, lân và kali dễ tiêu

đều nghèo.

– Vùng đồng bằng

+ Nhóm đất phù sa (P):

++ Đất phù sa được bồi, trung tính ít chua (Pbe). Loại đất này có ở hầu hết

các huyện trong tỉnh, thường được phân bố ở ngoài đê và ven sông, hàng năm được

72

bồi đắp phù sa do nước sông dâng cao, mức nước ngập 2-3m. Qua phân tích mẫu

đất có được kết quả như phụ lục 11. Loại đất này có tầng đất dày trên 100cm, thành

phần cơ giới cát pha đến thịt nặng, phẫu diện chưa bị phân hóa, cấu trúc kém, một

số nơi phẫu diện khá đồng nhất về màu sắc và thành phần cơ giới. Một số do chất

lượng đất phù sa bồi không đồng đều nên có sự phân tầng giữa các lớp phù sa,

thành phần cơ giới, độ chặt.

Thông qua kết quả phân tích nhận thấy: đất có phản ứng trung tính – kiềm

yếu, độ no bazơ cao, dung tích cation trao đổi cao. Hàm lượng chất hữu cơ thấp,

đạm tổng số nghèo, tuy vậy hàm lượng lân và kali tổng số giàu đến trung bình, lân

và kali dễ tiêu nghèo đến trung bình. Loại đất này phân bố tại nơi có địa hình cao và

ít diện tích ở địa hình vàn, mỗi năm chỉ có thể trồng 2 vụ màu do đất thường bị

ngập sâu vào tháng 7, 8. Vì vậy, nơi đây có nhiều hộ chuyển sang trồng cây dâu

tằm.

++ Đất phù sa không được bồi, chua (Pc). Loại đất phù sa không được bồi,

chua phân bố ở hầu hết các huyện trong địa bàn tỉnh Hải Dương trừ huyện Cẩm

Giàng, Tứ Kỳ và thành phố Hải Dương. Đây là loại đất phù sa trong đê, hàng năm

không được bồi đắp. Tầng đất này dày trên 100cm, thành phần cơ giới cát pha đến

thịt nặng. Đất có màu nâu toàn phẫu diện, chưa có tầng loang lổ đỏ vàng, chưa bị

glây hóa, tuy nhiên trong phẫu diện có sự phân hóa tầng đất, các tầng sâu có ít vệt

màu nâu sẫm do tích luỹ Mn. Tầng sâu có thành phần cơ giới nặng hơn tầng mặt. Kết

quả phân tích loại đất này được tổng hợp trong phụ lục 12. Như vậy, đất tại những

khu vực này có phản ứng chua, hàm lượng chất hữu cơ thấp, nghèo đạm tổng số, lân

tổng số từ trung bình đến nghèo, kali tổng số nghèo đến trung bình. Trong khi đó lân

và kali dễ tiêu đều nghèo, dung tích cation trao đổi thấp, độ no bazơ khá cao. Loại đất

này phân bố ở những nơi có địa hình vàn khá cao đang được trồng các loại cây hoa

màu, rau, hoa và các loại cây ăn quả như: nhãn, vải thiều, cam, chanh, bưởi… Loại

đất này đang trồng 2 vụ lúa và 1 vụ màu nếu có được hệ thống tưới tiêu thích hợp.

++ Đất phù sa glây (Pg). Loại đất này phân bố ở trong đê, nơi có địa hình

vàn, trũng. Tầng đất dày trên 100cm, thành phần cơ giới cát pha đến thịt nặng;

73

glây trung bình toàn phẫu diện. Tầng mặt màu xám sẫm, thịt nhẹ; tầng đế cày thịt

nặng, màu xám xanh. Tầng sâu đất thịt trung bình, nhiều vệt loang lổ đỏ vàng

nhạt, xen kẽ vệt xám sẫm, cấu trúc kém. Kết quả phân tích loại đất này được tổng

hợp trong phụ lục 13. Loại đất này có độ phì tầng đất mặt ở mức trung bình, tầng

sâu nghèo, phản ứng đất từ chua đến rất chua, hàm lượng chất hữu cơ tầng mặt

cao, tầng sâu thấp; đạm tổng số tầng mặt trung bình, tầng sâu nghèo; lân tổng số

tầng mặt giàu, tầng sâu trung bình; lân dễ tiêu ở tầng mặt giàu nhưng ở tầng sâu

lại nghèo; kali dễ tiêu nghèo. Dung tích cation trao đổi trung bình, độ no bazơ khá.

++ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Loại đất này cũng phân bố ở

tất cả các huyện trong tỉnh, có tổng diện tích là 16.394ha, chiếm 9,9% tổng diện

tích đất tự nhiên của tỉnh. Chúng phân bố ở trong đê hàng năm không được bồi

đắp phù sa, có địa hình vàn đến cao. Trong các tầng đất sâu, quá trình feralit phát

triển mạnh, hình thành tầng loang lổ đỏ vàng. Về mặt hình thái, loại đất này có

tầng dày trên 100cm, thành phần cơ giới cát pha đến thịt nặng. Tầng mặt màu nâu,

hoặc nâu hơi vàng, có nhiều rễ lúa, có ít vệt rỉ sắt trong ống rễ, tầng sâu có các vệt

loang lổ đỏ vàng dày đặc xen kẽ các vệt xám sẫm. Kết quả phân tích loại đất này

được tổng hợp trong phụ lục 14.

Loại đất này phù hợp trồng 2 vụ lúa, nhiều khu vực được cải tạo để trồng

thêm một vụ màu hoặc trồng hoa. Đất này có đặc điểm hóa tính là: độ phì đất tầng

mặt trung bình, tầng sâu nghèo; phản ứng đất từ chua đến rất chua; hàm lượng

chất hữu cơ tầng mặt trung bình, tầng sâu nghèo; hàm lượng đạm tổng số ở tầng

mặt trung bình, tầng sâu nghèo; hàm lượng lân tổng số nghèo trong toàn phẫu

diện; dung tích cation trao đổi ở mức trung bình; độ no bazơ khá. Trên loại đất này

đang trồng 2 vụ lúa và 1 vụ màu.

+ Nhóm đất mặn (M):

Ở Hải Dương nhóm đất mặn chỉ có khoảng 3.977ha, chiếm khoảng 2,4%

tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, chúng phân bố chủ yếu ở các huyện Kinh Môn,

Kim Thành, Thanh Hà và Tứ Kỳ; ở hạ lưu ven sông Kinh Thầy, Văn Úc và Kinh

74

Môn. Đất này được hình thành do sự xâm nhập mặn của thuỷ triều theo các cửa

sông lên. Nhóm đất mặn ở Hải Dương bao gồm đất mặn ít và đất mặn trung bình,

thành phần cơ giới đất thịt nặng – sét toàn phẫu diện, glây trung bình ở các tầng sâu.

Tầng mặt và tầng sâu có sự phân hóa rõ rệt về cấu trúc, độ chặt. Loại đất này có

thành phần cơ giới đất thịt nặng đến sét toàn phẫu diện, glây trung bình ở các tầng

sâu, sự phân tầng rõ rệt về cấu trúc và độ chặt, đất có màu nâu đỏ của phù sa sông

(phụ lục 15).

Loại đất mặn ít và trung bình này có phản ứng đất ít chua, mặn ít đến trung

bình (Cl-). Tổng lượng muối tan 0,36 – 0,39%, hàm lượng clo đạt từ 0,01-0,1%. Đất

giàu chất hữu cơ và đạm tổng số, lân tổng số giàu, kali tổng số đạt mức trung bình,

lân và kali dễ tiêu đều nghèo. Dung tích cation trao đổi trong đất cao. Độ no bazơ

cũng đạt mức cao.

Hiện nay, phần lớn đất mặn ít và trung bình đều được sử dụng để trồng lúa,

ở nơi địa hình cao có thể trồng 2 vụ lúa và 1 vụ màu. Tuy nhiên, để sử dụng hiệu

quả loại đất này cần phải đắp đê, làm bờ vùng ngăn mặn, rồi tiến hành rửa mặn,

kết hợp các biện pháp canh tác, chọn giống cây trồng thích hợp để có được hiệu

quả kinh tế cao.

+ Nhóm đất phèn (Sp2M):

Nhóm đất phèn có diện tích 2964ha, chiếm khoảng 1,8% tổng diện tích đất

tự nhiên của tỉnh, phân bố ở các huyện Kinh Môn, Tứ Kỳ, Kim Thành và Thanh Hà

trên địa hình vàn thấp và trũng, ven các sông Kinh Thầy, Kinh Môn, sông Luộc. Kết

quả thu thập và phân tích mẫu đất cho thấy: ở Hải Dương chỉ có một loại đất phèn

là đất phèn tiềm tàng, sâu, mặn (Sp 2M). Loại đất này có tầng dày trên 100cm, màu

xám sẫm, xám xanh, glây toàn phẫu diện, thành phần cơ giới thịt trung bình – sét.

Tầng mặt bùn nhão, không có cấu trúc, nhiều rễ nhỏ; tầng sâu cấu trúc tảng, dẻo,

dính khi ướt, cứng khi khô, rất chặt khi ẩm, có chứa nhiều xác hữu cơ bán phân huỷ.

Kết quả phân tích loại đất này được tổng hợp trong phụ lục 16.

0 comments on “Đất xám bạc màu được hình thành trên phù sa cổ, có quá trình hình thành đất chủ – Tài liệu text

Trả lời

[Review] 72 tư thế quan hệ tình dục phê không tưởng có hình ảnh sống động
[Review] 72 tư thế quan hệ tình dục phê không tưởng có hình ảnh sống động

Social